Thứ tư, ngày 02 tháng mười hai năm 2009

Không có thơ

Hôm nay không có thơ đâu, hứa thế. Thơ mấy ngày liền khách vắng teo, biết thế. Nhưng mấy hôm rồi bận đến bạc đầu. Cứ quẳng thơ lên cho nó nhanh.

Đến tối nay thì xong rồi, đã có thể phần nào nhẹ nhõm trở lại. Mấy hôm trước bận chủ yếu vì phải học bài. Chẳng phải học bài để thi gì, mà học bài để dạy. Cũng không có gì to tát, chỉ là một khóa học trong công ty thôi, nhưng người học toàn là các bạn Tây có sừng có mỏ nên chuẩn bị hơi vất vả tí. Rồi cũng xong. Hơi mệt, nhưng khi xong thì có cảm giác sướng, kiểu như đã có một thành công nho nhỏ. Nhân tiện, cái khóa học đấy tên là Career Development. Đại khái hướng dẫn cho mọi người phải hiểu mình là ai, có thế mạnh thế yếu gì, làm thế nào để được đánh giá cao trong công ty, toàn những thứ ba lăng nhăng như thế.

Chiều ra khỏi văn phòng, đi ngang cái tivi, thấy có mặt anh Obama nên đứng lại nghe. Hóa ra là anh đang ăn mừng cái giải Nobel hòa bình bằng cách gửi thêm 30.000 thanh niên Mỹ cao to lực lưỡng sang Afghanistan đi săn chuột chũi. Lúc trước, anh này viết cuốn sách tên gì nhỉ, cái gì mà hy vọng, hy vọng. Ừm, phải có hy vọng chứ, sống mà không có hy vọng thì sống làm đếch gì. At the end of the day, he’s just another American president, isn’t he? Cũng liên quan đến Obama, có câu này vui hơn: Tôi nói mà tôi nhìn Obama mà tôi thấy ông ấy cũng chăm chú lắm đó, lắng nghe lắm. Như thế là mình vừa động viên ông Obama nhưng mình vừa phân hóa cái nội bộ của ông ấy. At the end of the day, he’s just another [whatever you want], isn’t he?

Mỗi ngày một cuốn sách: Ma chiến hữu

Trong siêu thị Big C có một quầy sách. Sách không nhiều lắm nhưng có tác dụng giúp tôi giải trí những lúc phải đi siêu thị với cụ bà, người có thể đắm mình hàng giờ trong hàng cá với hàng rau. Thật ra, tôi chẳng bao giờ có ý định mua sách ở đây, vì nếu mua thì sách được tính tiền chung cùng cá và rau cũng kỳ kỳ. Thế nhưng tuần trước thấy ở đây có cuốn Ma chiến hữu của Mạc Ngôn, cuốn sách một thời ồn ào, nên tặc lưỡi mua đại. Sách chỉ hơn 200 trang, đọc vèo hơn tiếng hết. Đọc xong thì không hiểu tại sao nó từng gây nhiều ồn ào như thế, mà nó đã từng ồn ào vì lý do gì tôi quên béng rồi. Điều duy nhất đọng lại trong tôi khi đọc xong cuốn này là biết rằng có một nhà văn Trung Quốc viết về đề tài này (chiến tranh biên giới 1979). Mạc Ngôn, đọc Báu vật của đời và Đàn hương hình là đủ lắm rồi.

Thứ ba, ngày 01 tháng mười hai năm 2009

Màu (II)

ĐẤT


Tu tu tu tu tu tu

Gió thổi ù ù tạc đá

Ốc rạn mình vật vã

Hàng triệu năm đau nhau cuống rạ

Trẻ con nâu


À ơi chuyển dạ đất đau

À ơi đồi núi về sau nhoẻn cười

À ơi tát nước lên trời

À ơi sông bể đứng ngồi không yên


Chớp giật mưa nguồn

Thuồng luồng cõng thóc lên

Phù sa nồng nàn xanh ràn châu thổ

Khăn nâu yếm đỏ

Vắt vẻo sừng trâu

Trăng vàng kẻ chợ

Cha con mùa thóc mẩy nuôi nhau


À ơi cò cấy đồng sâu

À ơi cái vạc đi hầu cái nông

À ơi cò cấy đồng gần

À ơi đây mẹ để phần cho con


Nghiến răng cắn hạt thóc non

Sữa giòn đắng họng

Bờ thì dày mà ruộng ngày càng mỏng

Con đàn cháu đống

Cha con mùa thóc kém vẫn nuôi nhau


À ơi hạt gạo trắng phau

À ơi cò cũng trắng hầu gạo kia

À ơi sàng sảy nong nia

À ơi gạo vẫn sớm khuya nuôi cò.


2003



Tôi viết bài này khi chưa đọc Hoàng Cầm. (Thật ra đã đọc Lá diêu bông và Bên kia sông Đuống, nhưng hai bài này thì không tính nhỉ). Tình cờ cũng có khá nhiều màu. Sau này tôi có cảm giác nó nhang nhác thơ Hoàng Cầm!

Một sự tình cờ khác là tôi có dự định viết 5 bài theo Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, nhưng tôi chỉ viết được bài Thổ, tức là bài Đất dưới đây, và một nửa bài Hỏa - Lửa. Trong Về Kinh Bắc, Hoàng Cầm có năm bài Đêm Mộc - Đêm Thổ - Đêm Kim - Đêm Hỏa - Đêm Thủy!


Thứ hai, ngày 30 tháng mười một năm 2009

Màu

Tất cả những câu thơ sau đều trích trong tập Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm. Chỉ trong một tập thơ, mà số từ chỉ màu sắc đã nhiều như thế này, liệu Hoàng Cầm có phải nhà thơ "màu mè" nhất Việt Nam?:)


Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc

Tràng mày xếch vòng cung
bắn nát chiều mai ráng
đỏ

Đằm ca dao sáo diều chiều lịm
tím lưng trâu


Chùa Phật Tích ruỗi trong màn lụa
bạch
Tượng Quan Âm má ửng
bồ quân

Gió vào trăm cửa
Gió ra
hồng da trinh nữ
Gió vào
xanh quan lục
Gió ra
vàng thớ mít
ong bay vai áo tiểu thon mình

Cuối năm rì rầm tiếng khóc
Chàng ôi ngựa
tía võng đào

Lụa
vàng xé lộc rắc tro tiền

bạc đầu lên núi thổi cơm chiều

Tay rẽ lá giở trang
vàng diễm sử

Chợt thấy mấy hài nhi khăn
trắng

Tóc
trắng bồng bênh trước án


Đi
bứt lá
xanh giữ cỗi cành gầy
níu cuộng lá
vàng qua trận bão

Sợi tóc
trắng quấn vòng Khiêm lăng
chẳng dứt

nghểnh xem diều tầng
xanh đảo cánh


Dù gục khóc dưới chân thành
đã mất giải khăn
đào hứng lệ
Người đổi kiếp ra mô đất
xám

Đập rập tám lọng vàng đô đốc
cha truyền con nối
đã xơ lơ


Tin lửa đến giục thôn
vàng ngái ngủ
Giặc tràn sang cỏ rạp ải quan rồi

Cánh dăng dăng quan lộ
áo nẹp
vàng lên chín ngọn Hùng Sơn


đến Hà Giang dựng Cổng Giời
xanh


Cô gái quê thả tấm khăn
điều
bay nối đường tre liền ngọn thác
bạc phau đổ xuống tự vòm mây
Mắt ướt môi se không nức nở
Răng
đen rưng rức
nghiến oán thù
tím ngắt
nắng Phong Châu


Ba hồi chiêng lảo đảo các toà lầu
cong mái
đỏ quanh thành
Cờ xua hết mây đi
toà
biếc lắng xem

thổi bã ngất trời bụi
trắng

Thùng thùng trống chuyển nhịp tơi bời
Nhiễu
đỏ bên trái lên
Nhiễu
xanh bên phải xuống

Lưng vàng rạp cỏ

Giọt rượu
hồng hoen bố tử


Chiều
tím bặt sa trường màu giun chết

Đêm
vàng Kinh Bắc

Bến về nghe sợi đập làng
xanh


Gấc
đỏ mặt ngoài vườn

Mắt sư nữ chùa Thầy
thoắt mang màu
xanh xứ Lạng

Vạt áo
chàm vòng bạc
sương muối đầu năm

Những hạt đậu
xanh già nắng
óng mùa thơm

Nồi cám lợn kê
vàng khê khét

Chị gọi đôi cây
trầu cay má
đỏ
kết xe
hồng đưa Chị đến quê Em

Tướng sĩ
đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì

Em đi đêm tướng
điềuđỏ
đổi xe
hồng đưa Chị đến quê Em

Năm sau giặc giã
Quan Đốc đồng áo
đen nẹp đỏ
thả tịnh
vàng cưới Chị
võng mây trôi


Lắc đầu hoa tím rụng
ngó rừng
xanh Em hỏi ngọn nguồn
Biết rồi
Thôi
nghe hoa
tím hát


Em vắt quả cam
vàng đầu ngọn sông Thương

Chuỗi trân châu trút xuống mâm
vàng


Trách gì ai cặm cụi vót tre
đan lồng
vàng tía
ngỡ trời mây
trăm sắc ước ao

Chiếc lá mơ rừng
hát lừng ngọn gió
khóc
đỏ chiều quê


Gà con nhớ mẹ
cỏ
vàng rung chân

Chim
vàng phải tên dưới bụng
giận mình bay quá cao
Bướm
ngũ sắc rã rời tay trẻ xé
trách mình quá lộng nắng tàn xuân

hồng Em lại nổi
đồng mùa nước lụt mông mênh

Đào giếng sâu rồi
đừng lấp vội ngày
xanh

Những hội hè Kinh Bắc
có thi nhau giật giải pháo toàn
hồng


Tóc quấn cột nhà
Con trăn
đen thoi thóp

Bụng đâu chứa hết những bãi sông
xanh ngắt

Má xuân
hồng
lồng khói
tím
lịm sang thu


Đùi chảy búp dài thon nhún vội
Bàng hoàng tia chớp liệng nghiêng
xanh


Chuỗi pháo đùng thèm bay
bùng giấy
đỏ liều thân


Một mái rạ
vàng ấm Châu Long Dương Lễ
Ngơ ngẩn đường khâu áo lạnh Lưu Bình

Chợt bừng nghìn cây nến
đỏ
như sững sờ nghìn tội

xanh ngây ngây đêm sông Cầu
Em anh giờ lẩn trốn bụi bờ đâu


Vớt Trương Chi về gấm đỏ lầu Tây


Những lá Diêu Bông
với đôi xe
hồng

Cây đu đủ sau nhà vừa bấm ngọn
đội mũ niêu
đen
đi trong đêm mưa dầm

Dẫy tre xa giấu biệt giải khăn
điều

chiêm chiếp xó nhà mưa mọt
xanh gì chỏm tóc lên ba

Chị lỡ xe
hồng
Mẹ đi lấy chồng
cỗ cưới chênh vênh khoai luộc
Mật
vàng mọng rách vỏ nâu non


ổ sáo
đen mái chèo khua vỡ trứng

Đi tìm con bướm
bạc đầu
Liếc qua hoa nhài nhuộm
nâu

Cúc vàng sóng sánh
khăn nhiễu tam giang

Ơi chiều Kinh Bắc
Chuông chùa nhuộm
son


Và dai dẳng em ơi
là cơn say khát lá
cứ thon mềm
xanh lả
trong men quê bồi hồi

Ta con bê
vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín

Ô này tám đỏ ra hoa

Ta con chim cu
về gù dặng tre
đưa nắng ấu thơ
về sân đất
trắng

Thứ sáu, ngày 27 tháng mười một năm 2009

Bằng

Cách gieo bằng trắc trong thơ thất ngôn Đường luật (tứ tuyệt và bát cú) dĩ nhiên luôn tuân theo quy tắc chặt chẽ, hỏng bằng trắc là coi như hỏng bài thơ. Khi các nhà Thơ Mới làm thơ bảy chữ, tuy có lúc thay đổi về cách ngắt nhịp, nhưng tựu trung họ vẫn không thay đổi nhiều về cách gieo bằng trắc. Bằng trắc trong từng khổ thơ bảy chữ bốn câu trong các bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử .v.v. không khác so với bằng trắc trong các bài tứ tuyệt ngày xưa. Nếu lấy nhịp 4/3 làm chủ đạo, thì trong từng cụm 4 và cụm 3 luôn có bằng trắc xen kẽ, chứ không có chuyện toàn thanh bằng hay toàn thanh trắc trong cụm; hoặc nếu xét về một câu bảy chữ thì không có chuyện năm đến sáu thanh bằng đứng liền nhau. Thỉnh thoảng, có những câu những bài ngoại lệ, mà nhiều người biết nhất là bài Tỳ bà toàn thanh bằng của Bích Khê, có hai câu mà hầu như ai đọc thơ cũng nhớ và Hoài Thanh tán tụng là thuộc loại hay nhất trong thi ca Việt Nam:

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông

Xuân Diệu trong bài Nhị hồ cũng sử dụng rất nhiều thanh bằng, ví dụ như hai câu này:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng theo chơi vơi

Còn trong Tống biệt hành, Thâm Tâm viết:

Đưa người ta không đưa sang sông

….

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.

Khi đọc nguyên một tập thơ Quang Dũng tôi từ đầu đến cuối, tôi thấy Quang Dũng thường xuyên viết những câu thơ bảy chữ không theo cách kết hợp bằng trắc “truyền thống” kể trên, thường là sử dụng nhiều thanh bằng đứng liền kề nhau, hoặc nếu có kết hợp thanh trắc thì đặt vào những vị trí lạ lẫm, khiến cho câu thơ thường mang âm điệu chơi vơi.

Trong những bài đầu tiên, đã thấy Quang Dũng viết những câu như thế:

Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang

(Chiêu Quân)

Ngồi đây năm năm miền ly hương, hay

Tịch mịch sầu vơi bèo râm ran, hay

Em ơi! Em ơi! Đêm dần vơi

(Cố quận)

Trong những bài nổi tiếng như Mắt người Sơn Tây hay Tây Tiến thì có:

Vầng trán em mang trời quê hương

Mắt em dìu dịu buồn Tây phương

hay

Mường Lát hoa về trong đêm hơi, hay

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi, hay

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi, hay

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Trong những bài ít nổi tiếng hơn cũng không thiếu những câu mang âm điệu như thế. Ví dụ:

Trong bài Thu, có câu: Cánh hồng nhạt nhạt mây phiêu lưu, hay Ngồi đây vời tưởng đường quê hương, hay Buồn nhớ thương ai lòng hiu hiu.

Trong bài Hồ Nam, có câu: Ai biết Hồ Nam giờ ra sao

Trong bài Bố Hạ, có: Tơi nón trung du em về đâu, hay Rừng xa Yên Thế hùm thiêng nằm

Trong Pha Đin, có: Dừng xe trong mây nhìn phương Nam.

Thơ Quang Dũng có một chất đặc biệt. Đặng Tiến thì gọi đó là chất mơ, “một thoáng mơ phai”. Người khác thì gọi đó là chất hào hoa, chất Hà thành. Riêng trong những bài bảy chữ, tôi nghĩ, cách sử dụng bằng trắc thế kia cũng góp phần tạo nên nét độc đáo của thơ Quang Dũng.

(Có lẽ tôi không nên nói rằng entry sắp tới sẽ viết về nhà thơ "màu mè" bậc nhất Việt Nam, kẻo có bạn đi theo chằng chằng đòi nợ:))

Thứ năm, ngày 26 tháng mười một năm 2009

Khi [cha] mẹ vắng nhà

Cha mẹ rất quan trọng đối với sự phát triển của con cái.

Câu này hiển nhiên, và nhắc lại ở đây có vẻ thừa đúng không ạ?

Thôi thì chỉnh nó đi một chút, coi thử có còn hiển nhiên không: Cha mẹ cần dành nhiều thời gian cho con cái.

Cái câu sửa lại này, sự hiển nhiên có vẻ vẫn còn, nhưng có vẻ như (có vẻ thôi) bắt đầu gợi ra vấn đề. Hay dà, cha mẹ làm đầu tối mặt tối cả ngày, tối về mệt rũ, chưa kể thi thoảng phải đi tiếp khách/ sinh nhật đồng nghiệp/ dự tiệc khai trương v.v., bao nhiêu sự kiện xã hội cần sự có mặt của những người làm cha làm mẹ, làm thế nào dành nhiều thời gian cho con được. Thế nhưng, các cha mẹ ơi, dù bận rộn đến đâu, hãy về nhà sớm với con cái, đặc biệt là khi con bạn đang tuổi teen.

Hãy giở thử truyện Kiều ra xem, có phải chỉ vì cha mẹ đi ăn tiệc về muộn, mà nàng Kiều ta, một hot teen, đã đang đêm hôm tót sang nhà giai, đàn hát rồi thề bồi này nọ kia không:

Đến nhà vừa thấy tin nhà,
Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về.
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình

Các bậc cha mẹ cứ mải đi ăn tiệc đi, rồi con gái mình nó chạy theo trai hết.

Chẳng những chạy theo trai, mà còn nói thế này:

Đừng điều nguyệt nọ hoa kia .
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai

Chỉ không có chuyện hoa nguyệt thôi, ngoài ra thì chẳng tiếc gì cả. Ghê gớm chưa cái cô hot teen này!

Phụ lục: Vì sao Kiều là hot teen?

Hot, vì dựa vào câu này:

Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Còn teen, vì dự vào câu này:

Xuân xanh xấp xỉ đến tuần cập kê

Bác Nguyễn Tài Cẩn thì cho rằng Kiều gặp Kim khi đã hai mươi mốt tuổi, nhưng tôi không tin bác ấy lắm. Thời đó, gái hai mươi mốt tuổi hẳn đã là gái già!